FC2ブログ
 
■プロフィール

アンコムチュア

Author:アンコムチュア
ベトナムのごはんが、大好きです。

今はホーチミン市に住んで、ローカル食堂や路上の屋台で、ベトナムの庶民料理を食べ歩きしています。
     ↓
日々の食事を通して、ベトナムの食文化を知ることを、ライフワークにしています。

そして、ベトナム語の達人になりたい。南のホーチミン弁、北のハノイ弁、中部のフエ弁をマスターし、ベトナム人を驚かせたい。

■カテゴリ

■最新記事
■月別アーカイブ
■フリーエリア

■検索フォーム

■リンク
(sach3) Bài 1 Mô tả người 人を描写する (4~8)
(sach3) Bài 1 Mô tả người 人を描写する (4~8)

4.Từ vựng

Điền các từ dưới đây vào chỗ trống thích hợp:
空欄の中に、適する言葉を下の単語から選んで入れなさい。

Chị dâu tôi dáng người thon thả.
Chị không có nước da trắng như nhiều cô gái khác nhưng mái tóc dài, óng mượt của chị thì có lẽ không ai bằng.

Chị không có đôi mắt to, đen láy như em gái tôi.
Mắt chị chỉ là mắt một mí.
Mũi chị có thể nói là hơi thấp.

Thế nhưng anh tôi lúc nào cũng cho rằng vợ mình là người đẹp nhất.
Tất cả chúng tôi đều yêu mến chị vì chị nấu ăn ngon và tính tình lại vui vẻ nữa.

兄の妻は、体形はスリムです。
彼女の肌は、他の女性のように白くはありませんが、髪の毛は長く、きっと誰よりもつやつやして美しいです。

彼女は、妹のように目は大きくありません。
眼も、ひとえまぶたです。
鼻は、少し低いです。

このような彼女ですが、兄はいつも、「妻は、一番美しい」と言っています。
私たちはみんな彼女が大好きです。彼女の作る料理はとてもおいしいし、そのうえ性格もとても明るいです。


5.Thực hành nghe 聴き取り練習

Tôi có một anh bạn năm nay đã ba mươi sáu tuổi, thế mà anh ấy vẫn chưa lập gia đình.
Bố mẹ anh lo lắng lắm vì anh là con trai duy nhất trong gia đình.
Các chị em gái của anh đều đã lập gia đình từ lâu.
Lần nào tôi đến nhà anh chơi, mẹ anh cũng bảo tôi cố khuyên anh lập gia đình để các cụ sớm có cháu nội.

Nhưng dù tôi có thuyết phục thế nào anh cũng cười bảo rằng : "Mình chưa tìm được người vừa ý". Có lần tôi hỏi anh người thế nào là người vừa ý anh thì anh bảo rằng cô ấy phải cao, tóc dài, có học thức- ít nhất phải tốt nghiệp đại học, cô ấy phải xinh đẹp và có nghề nghiệp ổn định.

Các chị em gái của anh cũng đã nhiều lần giới thiệu bạn bè của họ cho anh nhưng lần nào anh cũng lắc đầu với đủ lý do: Cô thì cao quá, cô thì mập quá, cô thì đen quá, cô thì ít học quá - chỉ mới tốt nghiệp phổ thông.
Tôi nghĩ một người khó tính như anh chắc chẳng bao giờ lấy được vợ.

6. Thực hành viết  筆記問題

6.1
(1) Không ai thích làm đẹp bằng chị ấy.
彼女のように美しくなりたいと思わない人はいない→誰もが彼女のように美しくなりたい。

(2) Đối với anh ấy, không gì buồn bị các cô gải chê là xấu trai.
彼にとって、女性たちからかっこ悪いとけなされるほど、悲しいことはない。

(3) Không đâu thu hút nhiều quý bà quý cô bằng tiệm uốn tóc ấy.
あの美容室ほど、たくさんの女性たちを引き寄せる店はない。

(4) Đối với ông ấy, không gì vui bằng kiếm được nhiều tiền.
彼にとって、たくさんお金を貯金できることほど、うれしいことはない。

(5) Đối với ông Năm, không đâu thoải mái bằng ở nhà.
ナムさんにとって、自分の家ほど、くつろげる場所はない。

(6) Không ai có mái tóc đẹp bằng chị Thu.
Thuさんほど、髪の毛がきれいな人は、だれもいない。

6.2
(1) Làm sao mà ông ấy là một nghệ sĩ lớn.
彼が、偉大な芸術家のはずはない。(そうじゃないと、疑っている)

(2) Làm sao mà anh là bạn thân của cô ca sĩ nổi tiếng ấy.
あなたが、あの有名な女性歌手の親友のはずがない。

6.3
(1) Trong lớp tôi, cô sinh viên ấy thông minh không ai bằng.
私のクラスで、彼女ほど賢い生徒はいない。

(2) Trong công ty tôi, anh ấy cao không ai bằng.
私の会社では、彼が一番背が高い。(彼は誰よりも背が高い)

(7) Trong xóm tôi, không ai người hiền lành bằng ông ta.
私の村で、彼ほど温厚な人は、だれもいない。

(8) Sau khi đi Nha Trang, anh Tanaka cho rằng không đâu bãi biền đẹp bằng ở Việt Nam.
ナチャンに行ったあと、田中さんは、「ベトナムの中で、ナチャンほど美しいビーチはどこにもない」、と言っている。

6.4
(1) Tiếc là em không nghe lời chị, đi cắt tóc ngắn . Kiểu tóc này khpông hơp với khuôn mặt của em.
残念ながら、エムは私の言うことを聞かないで、髪の毛を短くした。エムの顔の形には、このショートカットは似合わない。

(2) Ông Huy là một người đàn rất giàu có. Ông đang theo đuổi một cô gái trẻ đẹp. Nhưng ông Huy lớn hơn cô gái ấy 20 tuổi.
Cô ấy nói với một người bạn: Ông Huy rất giàu có, tiếc là ông ấy lớn hơn tôi 20 tuổi.
Huyさんは、とてもお金持ちです。Huyさんは、ある若くてきれいな女性を、追いかけています。でも、Huyさんは、彼女よりも、20歳も年が上です。
彼女は、ある友人に言いました。Huyさんは、とてもお金持ちです。でも残念なことに、私よりも20歳も年が上なんです。

(4) Hoa muốn làm tiếp viên hàng không nhưng cô hơi thấp, chỉ có 1m 50.Hoa nói : Tôi muốn làm tiếp viên hàng không. Tiếc là tôi hơi thấp, chỉ có 1m 50.
ホアさんは、スチュワーデスになりたいと願っています。しかし、少し背が低いです。1メートル50センチしかありません。
ホアさんは言いました。「私はスチュワーデスになりたいが、残念なことに、背が少し低いです。1m50cmしかありません。」

6.5
(1) Nga không phải là người ít nói, cô ấy là người nói nhiều kia.
ガーさんは、無口ではなく、おしゃべりだよ。

(6) Anh nhầm rồi. Chị ấy thích uống cà phê kia.
ちがうわよ。彼女はコーヒーが好きなんです。

6.6 Miêu tả vài dòng về một người thân
あなたの親友について、説明しなさい。

Đây là người bạn Việt Nam mà tôi quen đầu tiên.
Khuôn mặt của em ấy hình trái xoan, tóc thẳng và đen, đôi mắt một mí, mũi không cao, miệng nhỏ.
Em ấy rất thông minh, tốt bụng, hiền chân thật và giản di.
Em thích làm bánh và ăn trái cây.
Em ấy học tiếng Nhật rất chám chỉ để sau này có thể làm viêc ở một công ty Nhật Bản.
訳文ビーマット

7.Bài đọc 読解

Cường hơi hồi hộp(=lo lang). Đây là lần đầu tiên anh đi gặp một cô gái qua mục "Câu lạc bộ làm quen".

Nếu đúng như lời cô ấy tự giới thiệu thì người Cường sẽ gặp là một cô gái khoảng 1m 56, tóc dài, da trắng, thích nhạc nhẹ nhưng hơi khó tính.

Cườngは、少し心配しています。これは、彼が初めて「コウ ラック ボー ラム クエン(友達募集のコーナー)」を通して、初めて女性と会うからです。

もし、Cườngの会う女性が、記事の中で自己紹介していることが正しいとすると、彼女は、「身長は、1m56cm、肌は白いです。音楽を聴くのが好きです。でも性格は少し気難しいです」。

Ồ, có lẽ đây là điều làm anh khó nghĩ:
Nếu sau này anh lập gia đình với cô ấy thì sao nhỉ ? Cô ấy sẽ chẳng bao giờ hài lòng với những điều anh làm ? Cô ấy sẽ chê tất cả những gì anh mua tặng, hay là ....?

おい、彼は、難しく考えているみたいだぞ。
もし彼女と結婚したら、どうなるだろう。彼女は、彼のすることをどれも喜ばないだろう。彼がプレゼントを贈っても、どれもよくないとけなすだろう。または、・・・・。

Không, có lẽ tốt nhất là đừng nghĩ đến nhưng chuyện không hay đó. Điều quan trọng là anh sẽ nói gì khi gặp cô ấy?

Anh sẽ nói:"Rất vui được gặp cô. Xin lỗi, cô làm việc ở đâu ? Gia đình cô có mấy người ? Cô thích ăn món gì nhất ?....

Nhưng mà nói như vậy có tự nhiên không ? Ôi, anh bối rối quá. Lúc này có ai giúp được anh không ?

ちがう。きっと一番いいのは、そんな風に悪く考えないことです。重要なのは、初めて彼女にあった時に、彼が何を話すかです。

彼は話すのです。「はじめまして、お会いできてとてもうれしいです。失礼ですが、あなたはどこで働いておりますか? ご家族は何人ですか? 好きな食べ物は何ですか? ・・・・・。

でも、このように自然に話ができますか? あれ、彼はすごく困惑しているぞ。だれか、彼に手を貸してあげられる人はいないか・・・。

8.Ghi chú

(1) làm sao (mà) .... どうして・・・できようか。(できるはずはないと、疑っている)

Mới quen có một tuần, làm sao mà con biết rõ tính nết của cô ấy ?
知り合ってまだ1週間しか経っていない。どうして彼女の性格をはっきりとわかることができようか。

(2) tiếc là ... 残念ながら

Hôm qua con đưa bạn gái về nhà giới thiệu với gia đình, tiếc là ba không có ở nhà.
昨日、彼女を紹介するために家に連れてきました。残念ながら、お父さんは家にいませんでした。

Anh rất muốn gặp em, nhưng tiếc là anh sắp phải đi xa.
私はすごく会いたい。でも残念ながら、すぐに出かけなければならない。

(3) kia ... そうじゃなくて、・・  それじゃなくて・・

Ba muốn con nói về tính nết của cô ấy kia.
そうじゃなくて、お父さんは、彼女の性格について、聞きたいんだ。

(4) không ... bằng : なによりも・・・

Má con nấu ăn ngon không ai bằng.
お母さんのつくる料理は、だれよりもおいしい。

(@) giống nhau. と giống のちがい

① A và B giống nhau
Sở thích tôi và cô ấy giống nhau.
私と彼女の趣味は、同じです。

② A giống B
Cô ấy có những sở thích giống tôi.
彼女は、私と同じ趣味を持っています。

「 覚える単語 」 

印象 ấn tượng
外見 hình dáng . bên ngoài
性格 tính nết . tính tình

優しい hiền
正直な chân thật
地味な、質素な giản dị

温厚な hiền lành
気難しい khó chịu
明るい性格 vui vẻ

これから、追加


にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)     


∞ベトナム語sach3 復習 | 17:13:45 | コメント(0)
(sach3) Bài 1 Mô tả người 人を描写する (1~3)
(sach3) Bài 1 Mô tả người 人を描写する (1~3)

(Giới thiệu) 紹介

Hãy nhìn hai bức ảnh của cùng một người và thử xem anh ta đã thay đổi như thế nào.
ある人の2枚の写真を見てください。そして、どのように変わったか見てみてください。

Đây là bức ảnh chụp khi anh ta 22 tuổi, lúc mới tốt nghiệp đại học.
Khi đó anh ta rất gầy , chỉ khoảng 45 kí lô.
Anh ta để tóc dài , để ria mép , trông hơi già hơn so với tuổi .

Còn đây là bức ảnh chụp 10 năm sau đó , khi anh ta trở thành một nhà doanh nghiệp có tiếng.
Anh ta béo ra , có lẽ không dưới 70 kí lô.
Bụng anh ta hơi phệ.
Mái tóc anh ta cắt ngắn , gọn ghẽ , theo mô-đen của các nhà doanh nghiệp hiện nay.
Anh ta không còn để ria mép nữa.
Trông anh ta có vẻ rất tự tin.

これは、彼が22歳の時、大学を卒業したばかりの時に撮影した写真です。
その時は、彼はたったの45キロしかなく、すごく痩せていました。
彼は、髪の毛は長くのばし、ひげを生やし、年齢よりも少し老けてみえました。

一方、これはそれから10年後に撮影した写真です。彼は有名な実業家になりました。
少し太って、たぶん体重は70キロよりあると思います。
おなかも少し出ています。
髪の毛は、最近の実業家の髪型のように、きちんと短くカットしています。
彼はもう、ひげをのばしていません。
彼はとても、自信にあふれてみえます。


1. Ý kiến của bạn
あなたの意見

(1.1) Theo bạn, tại sao người đàn ông trong bức ảnh trên lại có những thay đổi như vậy ?
この写真の男性は、なぜこのように変わったと思いますか?

(1.2) Từng học viên miêu tả tóc và khuôn mặt của một học viên khác.
Sau khi nghe xong, cả lớp đoán tên của người được miêu tả.
各生徒は一人づつ、ほかのある生徒の髪の毛と顔の形を説明しなさい。
それを聞いた後、それが誰か、クラスのみんなで当ててみてください。

(1.3) Theo bạn, sắc đẹp có phải là một tiêu chuẩn quan trọng nhất để một người phụ nữ được mọi người yêu mến không ?
あなたにとって、「美貌、美しい」ということは、女性がみんなから愛されるための最も重要な要素だと思いますか?

(1.4) Bạn có nghĩ ấn tượng đầu tiên khi gặp một người nào đó là rất quan trọng không ?
Cho đến nay bạn còn nhớ lần đầu gặp một người Việt nào đó không ? Mô tả về người ấy.
あなたは、人に会う時、第一印象はとても重要だと思いますか?
今までにあったベトナム人で、初めて会った時の印象を今でも覚えている人はいますか。
その人について、どんな人か説明してください。


2. Hội thoại 会話

Cuộc nói chuyện giữa hai cha con
父と子の会話

(Cha) Hôm qua con đưa bạn gái về nhà giới thiệu với mẹ , phải không ?
父:昨日、お前は彼女をお母さんに紹介したのかい?

(Con) Dạ , phải. Tiếc là ba không có ở nhà.
子:はい。残念ながらお父さんは家にいませんでした。

(Cha) Ờ, ba bận họp ở công ty. Sao , con quen cô gái ấy lâu chưa ?
父:うん、会社で仕事していた。それで、彼女とは知り合って長いのかい。

(Con) Dạ , năm ngày.
子:はい、5日です。

(Cha) Ủa , mới có năm ngày thôi à ? Vậy , con có biết tính nết của cô gái ấy như thế nào không ?
父:え、知り合ってたったの5日かい。それで、彼女はどんな人か、もうわかったのかい。

(Con) Dạ , con biết chứ.
子:はい、わかっています。

(Cha) Vậy , con nói thử cho ba nghe cô ấy là người thế nào .
父:それじゃ、お父さんに彼女について聞かせてくれ。

(Con) Dạ , cô ấy tóc dài , mắt to .......
子:はい、彼女は、髪の毛は長く、目は大きくて、・・・・

(Cha) Không , ba không hỏi về hình dáng bên ngoài . Ba muốn con nói về tính tình của cô ấy kia.
父:ちがう、お父さんは彼女の外見を聞いているのではない。お父さんは、彼女の性格について、聞きたいんだ。

(Con) Dạ , cô ấy hiền , chân thật , giản dị , ghét giả dối , thích nấu ăn , thích làm bánh khi rảnh .....
子:はい。彼女は、やさしくて、正直で、質素で、うそが嫌いで、料理が好きで、時間があるときはケーキを焼くのが好きで・・・、

(Cha) Ờ , như vậy là giống má con. Má con nấu ăn ngon không ai bằng.
父:お、それじゃ、お母さんに似ている。お母さんの作る料理は、だれよりもおいしい。

(Con) Cô ấy cũng có sở thích giống con. Thích nghe nhạc , khoái du lịch , khoái bánh xèo .....
子:彼女は、僕と同じ趣味も持っています。音楽を聴くのが好きで、旅行が好きで、バインセオが好きで・・・・、

(Cha) Vậy bạn gái của con chắc chắn là người miền Nam rồi.
父:それじゃ、彼女はきっと南の人にちがいない。

(Con) Sao ba biết hay quá vậy , ba ?
子:どうしてお父さんは、それがわかるの?

(Cha) Thì ba đoán mà. Ủa , mới quen có năm ngày , làm sao mà con rành tính nết của cô ấy quá vậy ?
父:想像したんだ。おや、知り合ってまだたったの5日しかたっていないのに、どうしてお前は彼女の性格をそんなによく知っているんだい。

(Con) Thì con đọc trong báo , ở mục "Câu lạc bộ làm quen". Cô ấy tự giới thiệu như vậy.
子:記事で読んだんです。「友達募集」のコーナーで、彼女はこのように自己紹介していました。


3.thực hành nói 

(1) Tiếc là ba không có ở nhà. 残念ながら、お父さんは家にいなかった。
Tiếc là mũi anh ấy không cao. 残念ながら、彼は鼻が高くなかった。
Tiếc là mặt anh ấy không đẹp. 残念ながら、彼の顔はかっこよくなかった。
Tiếc là chị ấy không làm người mẫu. 残念ながら、彼女は模範となるような人ではなかった。

(2) Con nói thử cho ba nghe cô ấy là người thế nào.
彼女がどんな人か、お父さんに話してごらん。(聞かせてくれ)
Chị nói thử cho tôi nghe anh ta là người thế nào.
彼がどんな人か、私に聞かせてくれ。
Các bạn nói thử cho tôi nghe ông ấy là người thế nào.
みんな、彼がどんな人か、話してください。
Anh nói thử cho tôi nghe cô gái mà anh mới quen là người thế nào.
あなたが知り合ったばかりの彼女について、私に聞かせてください。

(3) Cô ấy tóc dài, mắt to.
彼女は、髪の毛が長く、目が大きい。

Cô ấy tóc vàng, mắt xanh.
彼女は、髪の毛は金髪で、目は青い。

Cô ấy tóc uốn quăn, mắt một mí.
彼女は、髪の毛は縮れていて、目は一重です。

Cô ấy tóc ngang vai, mắt hai mí.
彼女は、髪の毛は肩まで、目は二重です。

(4) Má con nấu ăn ngon, không ai bằng.
お母さんの作る料理は、だれよりもおいしい。

Cô ấy thông minh, không ai bằng.
彼女は、ほかの誰よりも賢い。

Cậu bé ấy chăm chỉ, không ai bằng.
あの子は、ほかの誰よりも、まじめです。

Ông giám đốc ấy khó chịu, không ai bằng.
あの社長は、ほかの誰よりも気難しい。

(5) Làm sao mà con rành tính nết của cô ấy quá vậy ?
どうしてお前は、彼女の性格をそんなに詳しく知っているのだい?

Làm sao mà anh biết rõ về gia đình của cô ấy quá vậy ?
どうして彼は、彼女の家族のことを、そんなに詳しく知っているのだい?

Làm sao mà chị biết rõ những tật xấu của cô ấy quá vậy ?
どうしてチは、彼女の病気のことをそんなに詳しく知っているのですか?

Làm sao mà ông tin vào những lời giới thiệu trên báo của cô ấy quá vậy ?
どうして彼は、新聞に書いてある彼女の自己紹介を、信用したのですか?

《覚える単語》
顔だちkhuôn mặt
長い mặt dài
丸い mặt tròn
角型 mặt vuông
たまご型 mặt trái xoan

頭 đầu
髪 tóc
額 trán
目 mắt
顔 mặt
耳 tai

鼻 mũi
口 miệng
くちびる môi
歯 răng
舌 lưỡi
肩 vai
首 cổ
うで cánh tay
ひじ khuỷu tay
手 tay
ひざ đầu gối
腰 lưng

<髪が長い> tóc dài   短いngắn   まっすぐthẳng   縮れxoăn quăn   黒髪màu tóc đen  肩までdài ngang vai

<目が大きい> mắt to   小さいnhỏ   ひとえmột mí   ふたえhai mí   黒いmắt đen   青いmắt xanh

<鼻が高い> mũi cao   低いthấp   とても低いtẹt   まっすぐthẳng  高くてまっすぐdọc dừa

<口が大きい> miêng rộng   小さいnhỏ

<肌が白い> da trắng   黒いđen   黄褐色ngằm ngăm

<体形> dáng người  スリムthon thả   太っているmập


にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)     


∞ベトナム語sach3 復習 | 11:39:46 | コメント(2)
Bai 8 Gia dinh
Bài 8 Gia đinh

(Giới thiệu)

Như nhiều người Việt Nam khác, anh sinh viên này xuất thân từ một gia đình có khá đông anh em.
Dưới đây là suy nghĩ về hoàn cảnh gia đình của anh ấy.

Tôi là con cả trong một gia đinh nghèo.
Bố mẹ tôi là nông dân ở Bến Tre.
Gia đình tôi có đông anh em : ba trai, ba gái.

Gia đình có đông anh em rất vui nhưng cũng có lúc rất buồn.
Luôn có chuyện để lo nghĩ.
Từ nhỏ, tôi đã phải làm việc giúp đỡ bố mẹ.
Nhờ vậy tôi sớm biết tự lập.

Tôi mong sau khi tốt nghiệp đại học, sẽ tìm được việc làm với thu nhập tương đối để giúp đỡ các em ăn học.


(履歴書で使う単語)
① 出身 xuất thân
② 生まれたところ sinh ra
③ 家族の状況 hoàn cảnh gia đình  


2. Hội thoại mẫu

Bình đến thăm bà Hai

(Bình) Bà ơi, cháu đến thăm bà đây này.

(Bà Hai) Ai vậy? Phải thằng Hưng đó không?

(Bình) Dạ, không phải đâu, bà. Cháu là Bình đây. Bà khỏe không, bà?

(Bà Hai) Bình nào vậy? Cháu chắt có những 20 đứa mà bà thì già rồi, lẩn thẩn.

(Bình) Bà ơi, bà không nhận ra cháu sao?
Cháu là con của Tư Thu, hồi trước ở kế bên nhà bà. Bà nhớ không, bà?

(Bà Hai) Con của Tư Thu đây sao? Trời ơi, dạo này cháu lớn quá, làm sao bà nhận ra được. Năm, sáu năm rồi còn gì.
Ba má cháu dạo này khỏe không?

(Bình) Dạ, ba má cháu vẫn khỏe. Chị Hoa, anh Hưng, anh Tuấn có hay về quê thăm bà không, bà?

(Bà Hai) Thăm gì mà thăm. Đứa nào cũng bận, lấy đâu ra thời gian mà về thăm bà.

(Bình) Cô Út đâu mà cháu không thấy vậy, bà?

(Bà Hai) Nó đi chợ, chắc là sắp về rồi. Ngồi uống nước đi, cháu. Lần này cháu về chơi được lâu không?

(Bình) Dạ, có một tuần thôi. Cháu sắp thi tốt nghiệp rồi nên bận lắm. Bà ơi, cháu có cái này biếu bà.

(Bà Hai) Cháu đến thăm bà là quý rồi, mua quà làm chi.

(Bình) Quà nhỏ mà, bà. Bà nhận cho cháu vui, nghe bà.

3. Thực hành nói

(1) Dạo này cháu lớn quá làm sao bà nhận ra được.
Bố mẹ xem video suốt ngày làm sao con cái học được.
Anh chị em một nhà làm sao không giúp nhau được.
Đám cưới chị Ba làm sao không về dự.

(2) Cô Út đâu mà cháu không thấy vậy?
Bà xã đâu mà anh phải đi chợ vậy?
Ông xã có nói gì đâu mà chị khóc vậy?
Gia đình nó có chuyện gì đâu mà nó có vẻ lo lắng?

(3) Mua quà làm gì.
Hỏi chuyện gia đinh nó làm gì.
Tổ chức sinh nhật thật lớn làm gì.
Đánh con làm gì.

5. Thực hành nghe

Mỗi khi rảnh rỗi, tôi thường mở tập ảnh của gia đinh ra xem và bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm cũ của thời thơ ấu.
Hồi ấy gia đình tôi sống ở quận 8, một quận nghèo của TP.Hồ Chí Minh.
Gia đinh tôi không đông lắm: một anh trai, một chị gái và tôi.
Tôi là con út trong gia đình nên được ba má nuông chiều hơn cả.

Tôi còn nhớ là mình thường cãi nhau với chị gái, lấy đồ chơi của chị ấy và làm bẩn rất nhiều sách của anh trai.
Những lúc ấy chị tôi thường ngồi khóc một mình, còn anh trai thi dọa sẽ không dẫn tôi đi câu cá vào ngày chủ nhật.
Khi tôi lên 10 thì anh tôi đã 17 tuổi và chị tôi được 15 tuổi.

Vì mẹ bận bán hàng ngoài chợ nên chị tôi phải thay mẹ làm việc nhà.
Chị phải nấu cơm , giặt quần áo cho cả nhà.
Còn lau nhà thì đã có anh trai tôi.
Tuy phải làm nhiều việc nhưng anh, chị tôi học rất giỏi.
Còn tôi thì trái lại.
Tuy là con gái nhưng tôi chơi cầu lông, chơi bóng bàn và đá banh rất giỏi.

Vì thế mẹ tôi thường bảo rằng nếu tôi học giỏi và bớt chơi thể thao thì mẹ sẽ cho đi Đà Lạt trong dịp hè.
Nhưng tôi có thích đi Đà Lạt đâu, tôi chỉ thích ở TP.Hồ Chí Minh chơi đá banh với các bạn cùng lớp.

7.Bài đọc

Ngày nay, gia đinh lý tưởng theo nhiều người là gia đinh có từ một đến hai con.
Một trao, một gái là tốt nhất.
Vậy mà bà xã tôi nhất định không chịu hiểu.
Bà ấy chỉ sinh cho tôi một đứa con gái rồi cho rằng thế là đủ.

Bà xã tôi nêu ra đủ các lý do, nào là bận rộn công việc cơ quan, nào là chăm sóc một đứa nhỏ là quá đủ, nào là thêm một đứa nữa thì tôi có chịu thức đêm thức hôm để chăm sóc cho đến khi đứa be tròn một tuổi không ....

Thú thật thức đêm để xem bóng đá đến hai,ba giờ sáng thì tôi thừa khả năng , nhưng thức đêm để thay tã hoạc pha sữa cho con thì tội chịu.

Tôi rất ngại khi phải nghe tiếng trẻ con khóc.
Trước đây, khi bà xã tôi sinh con đầu lòng thì tôi tha hồ ung dung với vai trò của kẻ "độc thân có vợ" , vì tất cả mọi việc đã có mẹ vợ tôi lo. "Con so về nhà mẹ" mà.

Nhưng giờ đây, nếu một mình phải làm tất cả thì chắc là tôi đành phải chịu thua bà xã.

8 . Ghi chú

(1) những 複数を示す冠詞

Cháu chắt của bà có những 20 đứa.
孫は、20人くらいいるよ。
Em có quần áo những tám, chín bộ mà còn kêu là không có quần áo sao.
8着、9着持っているのに、まだ服を持っていないというのかい。

(2) có  たったの  chỉ có と同じ
Cháu nghỉ một tuần (thôi).
休みは、たったの1週間しかない。

(3) làm sao •••• được. どうして~できようか。 できるわけがない
Dạo này cháu lớn quá, làm sao bà nhận ra được.
こんなに大きくなって。気が付くわけないわ。
Mới 9 tháng tuổi làm sao nặng đến 35 kg được.
9か月になったばかりで、体重が35kgもあるわけがない。

(4) còn gì 文末で使い、完了を表す
làm gì ~してくれなくてもよかったのに(でもうれしい)


Chúng ta không gặp nhau năm, sáu năm rồi còn gì.
5年、6年、私たち会っていないわ。
Các con chị đã lớn còn gì.
彼女の子供たちは、もう大きくなったわ。
Cô ấy có gia đình rồi còn gì.
彼女は、もう結婚しているわ。

Cháu mua qùa làm gì.お土産なんて、いらなかったのに・・・。(でもうれしい)
Tơ chức sinh nhật thạt lớn làm gì.
(こんなに大きい誕生日パーティーなんていらなかったのに・・。(でもうれしい)

99 あとで単語追加



にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)     


∞ベトナム語sach3 復習 | 01:34:34 | コメント(2)
Bai 7 Nha o
Bài 7. Nhà ở

(Giới thiệu)

Tìm được một nơi ở thích hợp là một trong những vấn đề quan trọng nhất cuộc sống của chúng ta.
Dưới đây chúng ta hãy làm quen với một người sống ở một ngôi nhà cổ.
自分の希望にマッチする住居を探すことは、私たちの生活において、とても重要な問題のひとつです。
以下にある、ある古い家に住んでいる人について知識を得ましょう。

Đây là nhà của tôi. Đúng hơn đây là nhà của bố mẹ chúng tôi.
Ngôi nhà này được xây theo kiến trúc Pháp, xung quanh có vườn cây.
Nghe nói nó được ông nội chúng tôi cất từ năm 1936.
Nhà rộng rãi, thoáng mát.
Mùa hè, trời nóng bức nhưng bên trong nhà mát rượi.
Chúng tôi không phải dùng đến máy lạnh.
Nhưng hiện nay ngôi nhà đã quá cũ kỹ mà chúng tôi lại không có đủ tiền để tu sửa.
Hơn nữa, từ nhà chúng tôi đến chỗ làm khá xa, mất nhiều thì giờ.

Cũ ・・古い。  mới新しいの反対語
Cổ ・・古くて文化的、歴史的価値がある。
Cũ kỹ・・ものすごく古いが価値がある  Rất cổ , không sử dụng

1.Ý kiến của bạn あなたの意見

mỗi loại nhà ở dưới đây có những ưu và nhược điểm gì?
下の各種類の家について、優れている点と弱い点は何ですか?

(1) Chung cư 高層住宅 
☺ưu điểm 優れている点
①  có người bảo vệ 警備員がいる
②  an toàn  安全
③  gần siêu thị スーパーが近くにある

😵Nhược điểm. 弱点
① giá mắc 値段が高い
② ồn ào うるさい
③ hoả hoạn 火事の時、消せない(はしご車届かない)

(2) Nhà riêng 一戸建て
☺Ưu điểm 優れている点
① có thể thay đỏi trong phòng 部屋の中を変えることができる(間取り等)
② có thể thay đỏi thiết kế 建築の様式を変えることができる

😵Nhược điểm 弱点
① tốn nhiều tiền để sửa chưa 修理するのにお金がたくさんかかる

(3) Nhà cho thuê 部屋を賃貸
☺Ưu điểm 優れている点
① có nhiều loại たくさんの種類がある
② có thể chọn vi tri  場所を選ぶことができる

😵Nhược điểm 弱点
① cãi nhau với chủ nhà 家主とけんかする
② không đầy đủ tiện nghi 設備が充分ではない
③ không thoải mái 居心地が悪い 自由でない(門限等があるから)

2. Hội thoại mẫu

Đôi vợ chồng sắp cưới muốn tìm mua nhà

(Lan) Sáng nay anh có đọc báo không, anh?

(Hoàng) Có. Có chuyện gì vậy?

(Lan) Anh có xem mục "Rao vặt " về "Nhà đất" không?

(Hoàng) À, em muốn nói đến chuyện tìm mua nhà của mình chứ gì. Anh chán lắm rồi.

(Lan) Nhưng nhà cửa là chuyện quan trọng cả đời mà.Cưới xong chúng mình ở đâu? Chẳng lẽ nhà ai nấy ở?

(Hoàng) Tất nhiên là không rồi. Nhưng để anh nghĩ đã.

(Lan) Hay là mình ở nhà thuê được không , anh?

(Hoàng) Thuê nhà bây giờ mỗi tháng một , hai triệu là ít. À này, có một chỗ tuy không lớn lắm nhưng rất tiện cho em đi làm. Mất 10 phút thôi.

(Lan) Ở đâu vậy, anh?

(Hoàng) Quận Tư.

(Lan) Vậy hả ? Ngày mai anh chở em đi xem thử nghe anh.

(Hoàng) không cần xem. Em biết nhà đó rồi mà.

(Lan) Em biết?

(Hoàng) Nhà của ba má anh chứ đâu.

(Lan) Nhưng mà nhà anh có 12 người. Thêm em nữa thì.....

3 Thực hành nói

(1) Chẳng lẽ. ~のはずがない。 理由がない。
Chẳng lẽ nhà ai nấy ở ?
Chẳng lẽ tiếp tục ở chung với bố mẹ.
Chẳng lẽ don nhà đi chỗ khác.
Chẳng lẽ cho thuê bớt một phòng trong nhà.

(2) đã あることをする前に、何かを完成させる
Nhưng để anh nghĩ đã.
Để tôi đi vay tiền trước đã.
Chị ở tạm nhà tôi vài ngày đã.
Anh nói với chủ nhà trước đã.

(3) tất nhiên là  もちろん、当然に
Tất nhiên là không rồi.
Tất nhiên là chẳng ai muốn sống ở khu vực mất an ninh cả.
Tất nhiên là họ phải trả trước ba tháng tiền nhà.
Tất nhiên là người nghèo được ưu tiên mua trước.

(4) là ít 少なくても、最低でも
Thuê nhà bây giờ mỗi tháng một,hai triệu là ít.
Từ chỗ tôi ở đi bằng xe máy đến trường mất nửa tiếng là ít.
Với số tiền này có thể xây dựng được 100 phòng học là ít.
Dọn dẹp phòng của nó mất 1 tiếng đồng hồ là ít.

4 Từ vựng

Đây là căn hộ của gia đình chúng tôi.
Nó nằm ở tầng ba của một chung cư cũ, gần trung tâm thành phố.
Căn hộ của chúng tôi hẹp , chỉ có 36 mét vuông.
Phòng khách trong nhà đồng thời cũng là phòng ăn.
Nhà chúng tôi lúc nào cũng phải mở đèn, mở quạt vì quá tối và quá nóng.

Ở chung cư có nhiều cái bất tiện vì lúc nào cũng ồn ào với đủ loại âm thanh và cầu thang thì luôn dơ bẩn.
Có lúc tôi cảm thấy không thể chịu đựng nổi nữa.
Tuy nhiên, chúng tôi không có ý định dọn đi nơi khác, vì ở đây giá thuê nhà rẻ và đi làm, đi mua sắm, giải trí cũng rất tiện lợi.

5.Thực hành nghe

Tôi có một căn nhà nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi.
Đó là kết quả của hơn mười năm tôi làm việc vất vả ở thành phố này.

Quê tôi là một vùng quê nghèo, quanh năm chỉ có nắng và gió.
Vì thế trước khi vào TP.Hồ Chí Minh, tôi luôn luôn nghĩ rằng mình phải cố gắng làm việc, phải kiếm thật nhiều tiền và phải mua được một căn nhà đẹp để đón cha mẹ vào ở.

Bây giờ tôi đã có tiền, trong nhà đã có ti vi, tủ lạnh, xe Dream, máy vi tính, máy lạnh .... thế mà cha mẹ tôi vẫn nhất định không chịu vào thành phố.

Cha tôi nói là ông đã già rồi và chỉ muốn sau này chết ở quê nhà.
Còn mẹ tôi thì dĩ nhiên bà luôn luôn nghe theo cha tôi.
Đôi khi tôi tự hỏi: tôi mua nhà, mua các tiện nghi sinh hoạt để làm gì và để cho ai đây?

7.Bài đọc

Nga đang sống cùng chồng trong ngôi nhà của bố mẹ mình.
Ở chung với bố mẹ và ba chị gái có cái tiện là Nga không phải nấu cơm mỗi ngày.
Nhưng lúc nào chồng Nga cũng phàn nàn rằng mình không được thoải mái lắm.

Sau khi bàn bạc, Nga wuyết định cùng chồng ra ở riêng sau khi mua nhà.
Họ sẽ mua một căn nhà.
Nhà nhỏ cũng được nhưng phải có điện nước riêng, ở khu yên tĩnh và nhất là không bị ngập nước mỗi khi trời mưa.

Chiều nay sau khi đi xem một số nhà trong mục bán nhà trên báo, Nga vô cùng thất vọng.
Có lẽ vợ chồng Nga sẽ chẳng bao giờ mua được một căn nhà vừa ý.
Hiện nay một căn nhà nhỏ, ở khu yên tĩnh có giá khoảng 50 lượng vàng là ít, còn những căn nhà có giá hợp với túi tiền thì Nga lại không thích vì chúng ở xa trung tâm thành phố hoặc nằm trong những khu dân cư ồn ào, phức tạp.

8.Ghi chú

(1) đã あることをする前に、何かを完成させる
① Mẹ ơi, con muốn xem ti vi.
Con phải dọn bàn ăn trước đã.
おかあさん、テレビを見たいよ。
食卓の上を片付けてからにしなさい。

② Mua máy giặt trứớc nhé!
Mua tủ lạnh trước đã.
洗濯機を買いましょう。
冷蔵庫を買ってからだよ。

(2) chẳng lẽ ~のはずがない ~の理由がない
① Chẳng lẽ tôi không thích ăn trái cây.
くだものが、嫌いなはずはない。
② Chẳng lẽ chị ấy chưa bao giờ ăn phở.
彼女が、フォーを食べたことがないはずがない。

(3) tất nhiên là 必ず、もちろん
① Ở khách sạn năm sao, tất nhiên là giá thuê phòng cao hơn khách sạn mini.
5つ星のホテルは、ミニホテルよりも、もちろん部屋代が高い。
② Phòng không có máy lạnh, tất nhiên là nóng.
部屋にエアコンがないので、もちろん暑い。

(4) N + ai nấy + V 各々
① Việc ai nấy làm. 各々がする仕事
② Tiền ai nấy tiêu (xài) 各々がお金を払う
③ Đồ ai nấy giữ. 各々が保管するもの

(5) là ít 最低でも、少なくても
① Ngôi nhà đó rất cũ kỹ.
Nó được xây cách đây 100 năm là ít.
あの家、古いねえ。 少なくても建ててから100年は経っている。
② Nhà tôi xa quá.
Đi làm bằng xe máy mất một tiếng là ít.
家が遠いんだ。 オートバイで最低でも1時間はかかる。

6. Miêu tả nhà của bạn ở Việt Nam
あなたのベトナムの家について、説明しなさい。

① Tôi đang sống ở một căn hộ ở Quận 3.
Nhà tôi gần trung tâm thành phố, khu yên tĩnh và lịch sự.

② Gần nhà tôi có nhiều quán ăn, tiệm cà phê, nên rất tiện lợi.
Mỗi ngày tôi đi ăn cơm ở quán ăn và nhà hàng khác, để tìm quán ăn vừa ngon vừa rẻ.

③ Căn hộ của tôi không rộng nhưng đầy đủ tiện nghi như máy lạnh, ti vi, quạt máy, tủ lạnh, tủ áo vv .
Nhà tôi có hai phòng, một phòng khách lớn và một phòng ngủ.

④ Chung cư của tôi có người bảo vệ và người quản lý, nên rất an toàn.
Khi đi du lịch một tháng, tôi không cần lo ăn trộm, chỉ bảo người quản lý thôi.
訳文省略

にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)     


∞ベトナム語sach3 復習 | 11:49:24 | コメント(0)
Bai 6 Y Phuc
Bài6 Y phục

(Giới thiệu)

Mỗi dân tộc đều có y phục riêng, phân biệt với y phục của các dân tộc khác.
Bây giờ chúng ta hãy làm quen với chiếc áo dài Việt Nam.

Trên đường phố Hà Nội, bên cạnh các kiểu váy áo châu, du khách thường bắt gặp những tà áo dài tha thướt với đủ màu sắc : màu trắng của nữ sinh trung học, màu xanh hoặc màu hồng của nhân viên công ty bưu điện....

Có một lịch sử lâu đời, chiếc áo dài Việt Nam không ngừng được cải tiến để ngày càng trở nên duyên dáng hơn.

2. Hội thoại

Ở một cửa hàng quần áo

(Ngươi mua) Chị ơi, cho xem cái áo kia đi, chị.

(Người bán) Cái này hả, cô?

(mua) Không phải. Cái ở kế bên. Vâng, đúng rồi. Mặc thử được không, chị ?

(bán) Dạ, được chứ. Mời cô vào trong. Vừa không, cô ?

(mua) Hơi chật.

(bán) Cái áo cô mặc thử size nào vậy ?

(mua) Size L.

(bán) Có một cái lớn hơn nhưng kiểu hơi khác một chút. Cô chịu thì tôi lấy.

(mua) Chị cho xem thử.

(bán) Dạ, đây cô.

(mua) Kiểu này trông mô-đen quá. Mặc đi làm chắc không hợp.

(bán) Kiểu này mà cô chê! Thanh niên bây giờ thích lắm đó.
Thôi,cô chờ một chút để tôi lấy cái khác cho.

(mua) Cái áo này bao nhiêu ?

(bán) 150 ngàn.

(mua) Sao mắc vậy ? Tám chục, được không ?

(bán) Cô thông cảm. Gần Tết thành thử cái gì cũng lên giá.Trả thêm chút xíu nữa đi, cô.

(mua) Chính chục, được không ?

(bán) Bây giờ nói chắc giá với cô luôn. Một trăm mốt.

(mua) Một trăm, được không ? Không được thì tôi đi chỗ khác.

(bán) Thôi, bán mở hàng cho cô vậy.

3.Thực hành nói

(1) Cho xem cái áo kia đi, chị.
Cho xem đôi kế bên đi, cô.
Cho đổi cái khác đi, anh.
Cho tính tiền đi, chị.

(2) Kiểu này mà cô chê.
Cái áo này mà em nói không đẹp.
Mắc như vậy mà nó cứ đòi mua.
Mới may hai bộ mà cô ấy còn muốn may thêm.

(3) Gần Tết thành thử cái gì cũng lên giá.
Dáng chị ấy đẹp thành thử mặc áo dài rất đẹp.
Nó thích mô-đen thành thử cắt tóc theo kiểu này.
Sắp hết tiền thành thử chị ấy không đi mua sắm nữa.

(4) Không được thì tôi đi chỗ khác.
Không giảm giá thì khách hàng không mua.
Không quảng cáo thì khách hăng không biết.
Không mặc vừa thì đổi cái khác.

4.Từ vựng

Có người nói rằng phụ nữ rất thích mua sắm, đặc biệt là mua quần áo mới.
Họ thường dùng thời gian rảnh rỗi của mình vào việc ra vào các cửa hàng thời trang để chọn lựa những bộ váy áo vừa ý.

Họ có thể mất hàng giờ để nói chuyện với nhau về kiểu áo này hay kiểu váy nọ mà không thấy chán .

Khi muốn mua một bộ y phục nào đó, điều quan trọng đối với họ không phải là bộ y phục đó đắt hay rẻ mà là đẹp hay không đẹp và nó làm cho họ thích hay không thích.


5. Thực hành nghe

Bây giờ hãy nghe một cô y tá nói về việc mặc đồng phục. Sau đó trả lời các câu hỏi sau:

Bệnh viện nơi tôi đang làm việc không phải là bệnh viện lớn của thành phố.
Nó chỉ là một bệnh viện đa khoa của quận.
Tuy bệnh nhân không đông lắm nhưng mỗi ngày các y tá chúng tôi cũng phải làm việc đến bốn giờ rưỡi chiều mới được về.

Công việc của tôi không có gì phải phàn nàn nhưng có một điều làm tôi không vui lắm.
Đó là việc tôi phải mặc đồng phục mỗi ngày.
Như bạn biết đấy, đồng phục của các bác sĩ, y tá đều giống nhau.
Tất cả đều là màu trắng.

Tuy biết rằng mặc đồng phục sẽ có nhiều ưu điểm như : không phải tốn tiền để chạy theo kiểu này , kiểu nọ ; thuận tiện khi việc ; không thể đánh giá giàu - nghèo qua bộ đồng phục .....

Nhưng tôi vẫn không thích bộ quần áo dành cho những người làm việc trong ngành Y.
Nó quá đơn điệu, không gây ấn tượng bằng các bộ quần áo màu sắc rực rỡ khác.

7.Bài đọc

Cúc nhìn chiếc áo dài.
Ngày nào đi làm cô cũng phải mặc áo dài thành thử bây giờ nhìn thấy nó cô hơi ngán ngẩm.

Công ty cô bắt buộc mọi nhân viên phải mặc đồng phục .
Bước vào công ty thì thế nào cũng thấy đàn ông đeo cà vạt, mặc áo sơ mi trắng , quần tây ; còn phụ nữ thì lúc nào cũng áo dài, hết màu trắng đến màu xanh rồi màu hồng.

Cúc chợt nảy ra một ý : tại sao cô không thử làm cho mọi người trong công ty khỏi phải nhàm chán về chiếc áo dài nhỉ?
Trước hết là vạt áo dài.
Tại sao hai vạt áo phải dài bằng nhau?
Còn tay áo nữa , bớt đi vài chục phân thì đâu có sao.
Trong các cuộc trình diễn thời trang được tổ chức gần đầy, các nhà thiết kế đã cách tân chiếc áo dài thành vô số kiểu lạ mắt, dài , ngắn , mỏng , dày.... trông thật hấp dẫn, trẻ trung.

Bây giờ cô sẽ đến các cửa hàng thời trang để tìm mua áo dài kiểu mới nhất , lạ nhất .
Nếu được, cô sẽ mua hai cái luôn.
Và thứ hai khi đến công ty, cô sẽ làm mọi người kinh ngạc với bộ áo dài mô - đen nhất.
Cô sẽ là người lăng-xê áo dài mốt mới cho các công ty thời trang vì hình như chỉ thấy người ta trình diễn các kiểu áo dài lạ mắt mà chưa thấy ai mặc trên đường phố bao giờ.

8.Ghi chú

(1) mà ~にもかかわらず
Bộ quần áo ấy đẹp như vậy chị không thích à?
こんなに素敵な服にもかかわらず、あなたは気に入らないのですか?

(2) cho 提案や要求をする時に、文末で使う
Anh chờ một chút , để tôi lấy đôi khác cho.
少々お待ちください。 他の服をお持ちしますので。
Anh làm ơn đi chỗ khác cho.
よそへ行ってください。

(3) thành thử  その結果
Gần Tết thành thử cái gì cũng lên giá.
テトが近づいてきましたので、その結果みんな値段が高くなっています。

(4) luôn 最終のことをいう時に使う。Không thay đổi もうこれ以上変わらない。
Bây giờ nói chắc với anh luôn.
これから、最終の値段を言うわ。

(5) thôi,.... vậy. 最終的な場面でよく使う
強制的に受理する場合、
Áo này năm mươi ngàn,được không?
Thôi,tôi bán mở hàng cho cô vậy.
(買い手) この服、5万ドンにまけてくれない。
(売り手) わかったわ。今日最初のお客さんだから、5万ドンで売るわ。

ほかのことをする場合。
Không bớt được đâu. Chác giá một trăm ngàn!
Thôi, không được thì tôi đi chỗ khác vậy.
(売り手) 安くできないわよ。これは10万ドンよ。
(買い手) いいわ。もし安くしてくれないのなら、他の店に行くわ。

【 Ý kiến của tôi về thời trang 】
(洋服、ファッションに関する意見を述べよ)


Trức đây tôi đã làm ở một công ty .
Khi đó mỗi ngày tôi mặc áo vét vì nhân viên công ty phải mặc áo lịch sự.
Đây là thói quen binh thường mặc áo vét ở Nhật Bản.


Mỗi ngày mặc áo vét là không khó lắm.
Khi mua áo vét tôi đã mua chiếc 5 áo một lúc với kiểu khác nhau.
Sau đó mỗi tuần tôi mặc từ Thứ 2 đến Thứ 6.
Tôi suy nghĩ nếu có 5 áo vét, mỗi ngày có thể mặc áo khác một lần.


Điều này là rất giản di, vì một chiếc áo chỉ mặc một lần một tuần, nên tôi có thể mặc lâu, 4 năm , 5năm được.


Ở Nhật Bản có *bốn mùa*, nên áo vét khác nhau tuy mùa.
Nhưng ở TP.HCM không có bốn mùa, chỉ có mùa mưa và mùa khô thôi.
Hàng ngày khoảng 30 độ, nên không cần nhiều loại áo.
Đó là ưu điểm . Tôi thích quần jean và áo thun vì rất thoải mái và dể đi bộ.


①以前、私はある会社で働いていました。その時は、私は毎日スーツを着ていました。なぜなら、会社員は礼儀正しい服を着なければならないからです。
スーツを毎日着ることは、日本ではふつうの習慣です。

②毎日スーツを着ることは、そんなに難しいことではありません。
スーツを購入するとき、私は、「1度にデザインの異なるスーツを5着」まとめて購入しました。
そのあと、毎週月曜日から金曜日まで、毎日それを着ました。
5着スーツがあれば、1週間の間、毎日違うスーツを着ることができると考えました。

③これはとても、質素(倹約?)なことです。なぜなら、一つのスーツは1週間に1度しか着ません。だから、スーツを4年、5年と、長く着ることができます。

④日本には、「四季」があります。そのためスーツも季節によって異なります。
しかし、ホーチミン市は、四季がありません(1年中夏です)。ただ、雨季と乾季があるだけです。
毎日、だいたい30度です。ですので、いろいろな種類の服は必要ありません。
これは、有利(優れた)点です。
私は、ジーンズとTシャツが好きです。着やすいし、歩きやすいし・・・・。


テトも終わったので、今までの復習です。

にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)     


∞ベトナム語sach3 復習 | 18:16:44 | コメント(0)
Bai5 Hình như tôi đã gặp anh
Bai5 Hình như tôi đã gặp anh

4.6 Ý kiến của tôi về việc sử dụng tiề bạc

Quan trọng thứ nhất là kế hoạch.
Lập kế hoạch về sự dụng tiền bao nhiêu tiền một tháng là rất quan trọng.

Lập kế hoạch về các khoản chi tiêu trong một tháng tiền, thuê nhà, tiền ăn, tiền điện, tiền nước, tiền học phí vv.
Cần tính toán các khoản chi tiêu sử dụng hết bao nhiêu tiền một tháng.

Quan trọng thứ hai là tiền lương.
Nếu tiền lương thấp hơn tiền sự dụng một trong tháng, cố gắng làm việc để có tiền nhiều hơn.

Quan trọng thứ ba là tiết kiệm tiền.
Mỗi tháng gửi tiết kiệm ở ngân hàng.
Hễ nhận tiền lương là gửi tiết kiệm mmột số tiền.
Sau 5 năm, sau 10 năm, chúng ta có tiền để thực hiện được mục đích cuộc sống của mình.

にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)      


∞ベトナム語sach3 復習 | 22:57:23 | コメント(0)
Bài 4 Tiền bạc
Bài 4 Tiền bạc

(Giới thiệu)

Tiền bạc luôn là mối bận tâm lớn của rất nhiều người, nhưng những suy nghĩ của mỗi người về tiền bạc thường không giống nhau.

Tôi là một phụ nữ giàu có.
Nhiều người cảm thấy ganh ty với cuộc sống của tôi.
Chồng tôi là giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn có tiếng trong thành phố.
Bạn sẽ nghĩ rằng tôi là một người hạnh phúc ?
Không, trái lại là đằng khác.
Chồng tôi luôn bận rộn với công việc, và ông lại khá lớn tuổi so với tôi.
Có lẽ những phụ nữ bình thường khác hạnh phúc hơn tôi.

2.Hội thoại

Mẹ và con trai

(Con) Mẹ ơi!

(Mẹ) Cái gì? Lại xin tiền nữa hả? Mới hồi sáng mẹ đưa con hai trăm ngàn rồi mà.
Con tưởng mẹ ngồi trên đống vàng chắc?

(Con) Có hai trăm mà mẹ tưởng là nhiều à ?
Đi một vòng với mấy đứa bạn là hết sạch ngay.

(Mẹ) Mỗi ngày con tiêu hết bao nhiều tiền? Tiền bạc đâu có dễ kiếm.
Con có biết là ba con phải vất vả lắm mới kiếm được tiền không?

(Con) Nhưng ba mẹ đâu có thiếu tiền, đúng không?
Thôi, được rồi. Con chẳng bao giờ xin tiền của mẹ nữa đâu.

(Mẹ) Mới nói một chút mà con đã giận rồi.

(Con) Con không cần. Hình như ba mẹ không thương con thì phải.

(Mẹ) Sao lại không thương? Nhưng con à, con phải cố tìm một việc mà làm chứ. Con lớn rồi...

(Con) Hễ mỗi lần con xin tiền là mẹ bảo con phải thế này, phải thế kia.
Chán quá. Thôi, mẹ cho con hai trăm nữa đi.
Tụi bạn con sắp tới rồi.

3.Thực hành nói

(1) Con tưởng mẹ ngồi trên đống vàng chắc.
Anh tưởng tôi là tỷ phú chắc.
Chị tưởng có tiền là có tất cả chắc.
Em tưởng số tiền này là của tôi chắc.

(2) Con có biết là ba con phải vất vả lắm mới kiếm được tiền không?
Anh có biết là tôi phải đi làm thêm mới có đủ tiền đóng học phí (nộp học phĩ) không?
Chị có biết là tôi đã vay tiền của bạn mới mua được chiếc xe đạp này không?
Các bạn có biết là họ phải rất tiết kiệm mới trở nên giàu có không?

(3) Mới nói một chút mà con đã giân rồi.
Mới đi một vòng mà nó đã tiêu hết cả tiền.
Mới xin một ít tiền mà mẹ đã mắng rồi.
Mới gặp nhau lần đầu mà anh ấy đã hỏi mượn tiền.

(4) Hình như ba mẹ không thương con thì phải.
Hình như cô ấy đang lo lắng về chuyện tiền bạc thì phải.
Hình như lãi suất ngân hàng đang tăng lên thì phải.
Hình như ông Sáu mới trúng thưởng một chiếc xe Future thì phải.

4. Từ vựng

Tôi luôn luôn nghĩ đến tiền.
Lý do là tôi tnường phải lo lắng về việc kiếm tiền để trang trải những chi phí cần thiết như : tiền ăn, tiền nhà, tiền điện, tiền nước.
Thường đến cuối tháng tôi chẳng còn một xu dính túi.

Trước đây, tôi đã phải bỏ học sớm vì không có đủ tiền đóng học phí.
Bây giờ vì không có tiền nên tôi chẳng làm được việc gì cả.
Tôi cũng không mong gì đến việc cưới vợ.
Tôi không dám vay tiền của bạn bè nữa vì tôi đã vay họ nhiều lần rồi mà chưa trả được.

Vay ở ngân hàng tuy lãi suất thấp nhưng nghe nói phải có một số điều kiện gì đó thì mới vay được.
Giá mà tôi trúng số nhỉ ?

hoàn toàn không còn tiền = chẳng còn một
Không học tiếp được = bỏ học
trả tiền học = đóng học phí
tiền học = học phí

5. Thực hành nghe

(1)
A: Sao dạo này trông anh có vẻ mệt mỏi vậy?

B: Mấy tháng nay tôi đang lo sửa nhà. Mệt lắm.
Lúc đầu tôi tưởng là sẽ tốn chừng hai, ba triệu thôi.
Nhưng đã chi năm triệu rồi, bây giờ lại phải thêm năm triệu nữa mới đủ.
Không biết lấy tiền đâu ra bây giờ.

A: Sao anh không vay tiền ở ngân hàng?

B: Đâu có dễ , anh.

(2)
A: Tiền thưởng tháng này anh định mua một cái máy hút bụi, em thấy có được không ?

B: Mới có một ít tiền mà đã muốn xài sang rồi.
Em thấy nhà mình chưa cần đâu.
Mua thêm một cái ti vi đi, anh.
Mỗi lần anh xem bóng đá, em không được coi phim.

A: Nhưng mà phải có ít nhất năm triệu mới mua ti vi được.
Mình đâu có đủ tiền .

B: Vậy tnì mình gửi tiết kiệm ở ngân hàng đi.
Anh thấy không, 10 triệu của mình mới gửi ngân hàng có 6 tháng đã lãi được 600 ngàn đồng rồi .
Lãi suất ngân hàng bây giờ là 12% một năm đấy.


(3)
A: Tiền anh để trong túi đâu rồi , em ?

B: Em đâu có biết. Anh xem lại lần nữa coi. Sáng nay anh có mua gì không ?

A: Anh chỉ mua một tờ thôi. Lúc trả tiền thấy trong túi vẫn còn bốn tờ năm chục ngàn mà.

B: Bốn tờ năm chục ngàn? Trời ơi. Chắc là anh làm rơi ở đâu rồi.
Tiền bạc anh tưởng là dễ kiếm lắm đấy hả ?

7.Bài đọc

Sau đây là cách khuyến khích con học tập của một đôi vợ chồng trẻ:

Họ chỉ có một đứa con trai chín tuổi.
Từ nhỏ thằng bé đã tỏ ra rất sáng dạ.
Mới ba tuổi nó đã đọc được bảng chữ cái, thuộc lòng nhiều bài thơ.
Khi đến tuổi đi học, thằng bé luôn được thầy khen là ngoan ngoãn, học giỏi.
Hai vợ chồng trẻ đặt rất nhiều hy vọng vào đứa con trai yêu quý của mình.

Để khuyến khích con đạt được thành tích học tập cao hơn nữa, một hôm người bố gọi con trai lại và đặt điều kiện:

" Từ nay, hễ mỗi lần con được điểm 10 là bố mẹ sẽ thưởng cho con 1000 đồng, còn nếu điểm 9 sẽ bị đánh 1 roi, điểm 8 là 2 roi, điểm 7 là 3 roi.... Nhớ chưa?"

Mỗi buổi chiều, khi vừa thấy con trai từ cổng trường bước ra, người bố đều hỏi: "Hôm nay con được mấy điểm?" Và bao giờ thằng bé cũng trả lời là nó được điểm 10.

Một hôm, hai vợ chồng nhận được điện thoại của cô giáo mời đến trường để nói chuyện.
Cô giáo cho biết thằng bé đã trả tiền cho một vài bạn cùng lớp để được bạn cho chép bài.
Hình như nó có điều gì lo lắng lắm thì phải.

Bố mẹ thằng bé vô cùng thất vọng.
Họ tưởng là "sáng kiến" của họ sẽ khuyến khích con chăm học hơn, nhưng kết quả lại trái ngược.

8.Ghi chứ

tưởng : nghĩ và tin về một điều gì đó mà thật ra thì không phải như vậy
Tôi tưởng là xe hơi này là của anh Nam.
Anh tưởng dễ trúng số lắm à ?
(~だと思っていたら、ちがっていた)

đâu có : có nghĩa không
Tiền bạc đâu có dễ kiếm.
Hôm nay tôi đâu có rảnh được.
(đâu có = không)

mới : điều kiện ---- kết quả
Bố mẹ tôi cho tiền mới mua được cái xe máy này.
(条件と結果。~したおかげで~)

mới ... đã : quá sơm bình thường
Ông ấy mới 30 tuổi đã là tỷ phú.
(~するには、早すぎる)

hình như... thì phải
Hình như chị ấy chuyên nhà mới thì phải.
(~みたいだ)


( Ý kiến )

Đối với tôi, tiền bạc không phải là yếu tố quan trọng nhất.
Sức khỏe là quan trọng nhất.

Vì nếu không có sức khỏe thì mình không thể làm việc, không thể đi du lịch, không thể làm những gì mình muốn.

Tiền bạc cũng quan trọng .
Nếu không có tiền, mình không thể đi bệnh viện, không thể ăn cơm, không thể đi uống bia với bạn.

Nhưng tiền không mua được hạnh phúc và sức khỏe.
Cho nên sức khỏe quan trọng hơn tiền bạc.



にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)      


∞ベトナム語sach3 復習 | 12:03:19 | コメント(0)
Bài 3 Học tập
Bài 3 Học tập

(Giới thiệu)

Mỗi người đều có món học ưa thích đồng thời có môn "nuốt không nổi".
Hãy nghe ý kiến của người này về các môn học.

Hồi ở trung học bạn thích môn học gì nhất ?
Tôi thì thích môn toán nhất.
Còn các môn khác tôi không thích.
Thường mỗi buổi tối, tôi mất hàng giờ để học thuộc lòng các bài học về địa lý, lịch sử, sinh vật... nhưng bao giờ kết quả kiểm tra các môn này của tôi cũng thấp.

(Ý kiến của tôi)

Tôi nghĩ chúng tôi phải suy nghí học tiếng Việt để làm gì.
Tôi học tiếng Việt ở đây để nhớ các nói lịch sự và tự nhiên.
Quan trọng là nói ý kiến tôi thấy như thế nào.

2.Hội thoại

Hai người bạn học cũ nhắc lại kỷ niệm hồi trung học của mình

(Lan) Thu còn nhớ hồi mình còn đi học không, Thu ?

(Thu) Nhớ chứ. Hồi đó vui ghê. Hễ học xong là chúng mình đi ăn chè, ăn kem.

(Lan) Đã lâu rồi Lan chưa có dịp về thăm trường.

(Thu) Mình cũng vậy. À, Lan còn nhớ cô Mai dạy sinh vật không ?

(Lan) Cô Mai cao cao, tóc dài, phải không ?

(Thu) Ừ, đúng rồi. Lan biết không, bây giờ cô ấy vẫn còn dạy ở trường cũ. Cô ấy đang dạy đứa cháu của mình đấy.

(Lan) Vậy hả ? Dạo này cô ấy thế nào ?
Lan nhớ hồi học lớp 10 và lớp 11, Lan rất ghét môn sinh vật.
Vậy mà lúc học với cô Mai năm lớp 12, Lan lại thích môn này nhất.

(Thu) Còn mình thì trái lại. Mình chỉ thích mỗi môn toán.

(Lan) Ai mà không biết hồi đó Thu giỏi toán nhất lớp.

3.Thực hành nói

(1) Nhớ chứ.
Được chứ. Tôi hiểu chứ. Thuộc chứ.
(もちろん~できる)

(2) Hễ học xong là chúng mình đi ăn chè, ăn kem.
Hễ sắp có kiểm tra là nó lại thức khuya học bài.
Hễ nghỉ hè là các bạn trong lớp lại chuẩn bị đi học thêm.
Hễ bị điểm kém là nó bị mẹ mắng.
( Hễ ~ là ・・・   ~するたびに・・・)

(3) Mình chỉ thích mỗi môn Toán.
Nó chỉ được điểm cao mỗi môn Lý.
Cô giáo bảo chỉ học mỗi năm bài.
Lớp tôi chỉ có mỗi hai học sinh thi lại.
( chỉ ○○ mỗi~  ただ~だけ○○)  

(4) Ai mà không biết hồi đó Thu giỏi Toán nhất lớp.
Ai mà làm nổi bài tập này.
Ai mà không thích học với thầy Hùng.
Ai mà giải được bài toán đó.
(知らない人はいない → 誰もが知っている。 誰が知っているだろうか→誰も知らない )

4. Từ vựng

Tôi thích các môn Văn, Toán, Ngoại ngữ, vì đây là các môn học quan trọng nhưng tôi thích môn Sử nhất.
Môn này cho tôi biết về quá khứ của dân tộc mình, về các cuộc chiến tranh, các sự kiện quan trọng trên thế giới v..v...
Theo tôi, học Sử không phải chỉ học thuộc lòng là đủ.
Cũng như các môn khác, môn Sử cũng đòi hỏi người học phải tổng hợp, phân tích, suy luận.
Theo tôi, một người giỏi môn Sử cũng là một người rất thông minh.

(単語)
Trương mẫu giáo 幼稚園
Trường tiểu học (lớp 1~5) 小学校
Trường trung học cơ sở (lớp 6~9) 中学校
Trường trung học phổ thông (lớp 10~12) 高校
Đại học 大学

Toán học 数学
Ngoại ngữ 外国語
Tiếng Anh 英語
Ngữ văn 言語学
Địa lý 地理
Lịch sử 歴史
Hóa học 化学
Sinh học 生物
Vật lý  物理
Thể dục 体育
Giáo dục công dân 教育公民
Môn vẽ 絵画
Môn âm nhạc 音楽

5.Thực hành nghe

(1) Hai sinh viên, một nam một nữ nói chuyện với nhau
A: Này, anh biết điểm thi môn Sử chưa ?
B: Rồi.
A: Tốt không ?
B: Không kém lắm. 6điểm. Còn chị ?
A: Tôi được 9 điểm.
B: Ồ, chị bao giờ cũng giỏi môn Sử nhất lớp.
Hễ thi là được điểm 9 hay 10 thôi.

(2) Hai sinh viên một nam một nữ nói chuyện với nhau
A: Mấy hôm nay sao anh không đi học ?
B: Thầy giáo vừa nói dài vừa nói dở. Chán lắm.
A: Ai dạy mà anh không chê. Có bao giờ nghe anh khen thầy giáo nào đâu.
B: Có chứ. Tôi chỉ thích mỗi thầy Hoàng hồi tôi học trung học thôi.
Thầy ấy thật là tuyệt vời, không ai bằng.
A: Chê thầy giáo mà có học giỏi đâu.
Bao giờ cũng phải thi lại hai, ba môn. Đúng không ?

Có ~ đâu = Không

(3) Cô thư ký thưa chuyện với một vị giáo sư già
A: Thưa thầy, sáng nay có một người đến tìm thầy ạ.
B: À, thế à ? Người ấy có nói tên gì không ?
A: Dạ, không ạ. Anh ấy chỉ nói là sinh viên cũ của thầy.
B: Thế, anh ấy người như thế nào ?
A: Dạ, em không chú ý lắm. Chỉ nhớ anh ấy da hơi ngăm đen, người hơi béo, có đeo kính cận.
B: À,tôi biết rồi. Anh ấy trước đây là sinh viên khoa Sử nhưng lại rất thích làm thơ, việt văn. Bây giờ anh ấy là một nhà báo khá nổi tiếng đấy.

(4) Hai nữ sinh viên đang nói chuyện với nhau về môn thi ngày mai
Lan: Ngày mai thi môn gì vậy, chị Hoa ?
Hoa: Anh văn. Bắt đầu lúc tám giờ. Lan nhớ đi thi đúng giờ đấy nhé! Hễ đến muộn là sẽ không được vào phòng thi đấy.
Lan: Trời ơi, sao lần này khó quá vậy? Thi phòng nào vậy,chị ?
Hoa: Phòng B002.
Lan: Phòng B002 hả chị ? Cám ơn chị nhé. Chết rồi. Tôi cứ nghĩ là tuần sau mới thi nên chưa chuẩn bị gì cã. Làm sao bây giờ ?

7. Bài đọc

Các bạn có thấy dạo này trên báo chí người ta than phiền về việc trẻ con bị học thêm quá nhiều không?
Ngoài giờ học ở trường, nhiều phụ huynh (chả mẹ của học sinh) còn bắt con học thêm các môn chính như toán, hóa, sinh, tiếng Anh.
Một số còn bắt con học bơi, học vẽ, đàn khiến cho trẻ chẳng còn thời gian rảnh rỗi để vui chơi, giải trí.

Giải thích về việc này, các bậc phụ huynh đó nói rằng họ muốn con mình được phát triển toàn diện.
Con họ không những phải giỏi các môn học ở trường mà còn phải đàn hay hoặc nói tiếng Anh thật lưu loát.
Nếu đứa bé nói rằng nó cảm thấy nhức đầu mỗi khi ngồi vào bàn học thì bố mẹ lại cho rằng con mình lười học hoặc tạo ra lý do vớ vẩn để được nghỉ ở nhà.

Đây, các bạn thấy đấy, họ thật là vô lý.
Còn tôi thì tôi không ép con học quá tải như vậy.
Hai con tôi đều đang học bán trú.
Mỗi ngày chúng chỉ học ở trường đến 4 giờ chiều và chỉ phải học vẽ, học múa ba lê vào mỗi chủ nhật thôi.
Còn tiếng Anh thì hai,tư,sáu nào chồng tôi cũng dạy cho chúng.
Các con tôi có cần đi học thêm nhiều đâu!

8. Ghi chú

bao giờ .... cũng
Bao giờ cũng cô ấy cũng được điểm cao nhấp lớp.
Anh ấy bao giờ cũng đến lớp mupộn 15 phút.

hễ...là
Hễ đi du lịch Huế là tôi ăn món Bún Bò Huế.
Hễ gặp tôi là cô ấy nói ....

ai(mà) ...
Ai mà ăn hết tô phở to như vây.
Ai mà thích hàng Trung Quốc.
Ai mà không thích hàng Nhật Bản.

(Ý kiến của tôi về việc có nên cho trẻ con học thêm ngoài giờ học ở trường hay không.)

☺Đối với trẻ con việc học trường là quan trọng mà đi chơi với bạn bè cũng quan trọng.

😵Học thêm quá là không tốt.
Vì sau khi học xong ở trường,con trẻ phải đi học thêm nhiều, không có thời gian ngjỉ ngời di chơi sẽ khiến chúng cảm thấy mệt mỏi và nhức đầu.

😕Nhiều phụ huynh nghĩ con mình học giỏi là hạnh phúc nhất.
Ở Nhật bản rất nhiều phụ huynh ép con học quá để được vào Đại học nổi tiếng.
Nhưng sau khi thi đỗ vào Đại học nó không học nữa.

😀Nên ý kiến của tôi là nếu con trẻ muốn, phụ huynh chỉ cần cho học thêm các môn bơi,vẽ hay học đàn.
Nhưng học thêm quá nhiều là không tốt.

にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)   


∞ベトナム語sach3 復習 | 13:03:34 | コメント(0)
Bài 2 Sức khỏe
Bài 2 Sức khỏe

(Giới thiệu)

Có một số người từ lúc còn trẻ cho đến khi lớn tuổi vẫn giữ được sức khỏe tốt, ít đau bệnh .Một số khác thì hay bị đau yếu.Sau đây chúng ta hãy làm quen với hai người đàn ông - một già, một trẻ.

Đây là cụ Ba. Năm nay ông đã ngoài 80 nhưng trông cụ còn rất khỏe.Cụ luôn vui vẻ với mọi người. Cụ không uống rượu, không hút thưốc.Sau lần nằm bệnh viện, cụ kiêng cả thịt lẫn mỡ.

Còn đây là Nam. Anh ta chưa đến 30 tuổi, nhưng trông rất già.
Trước đây anh hay uống rượu đến khuya với bạn bè.
Anh phung phí sức khỏe của mình với rượu và thuốc lá.
Bây giờ anh là một hội viên rất tích cực cực của một câu lạc bộ dưỡng sinh trong quận.

2.Hội thoại

Mẹ và con trai 10 tuổi - rất béo

(Mẹ) Trời ơi ! Con lại ăn nữa hả ?

(Con) Con đói mà, mẹ. Ăn một chút đâu có sao.

(Mẹ) Ăn một chút ! Con lúc nào cũng "ăn một chút" mà bây giờ đã 46 cần rồi .

( Con) Nhưng mà con đói lắm.

(Mẹ) Con phải cố gắng lên chứ. Bác sĩ bảo là con không được ăn nhiều chất béo, chất đường. Con không còn nhớ sao ?

(Con) Dạ, con nhớ. Nhưng bây giờ con đói quá.

(Mẹ) Mẹ biết con à. Nếu đói thì con ăn trái cây đi. Táo, cam, nho ... trong tủ lạnh đấy. Không thiếu thứ gì.

(Con) Con không thích ăn trái cây. Con chỉ thích phô-mai, sô-cô-la thôi.

(Mẹ) Mấy thứ đó làm con càng ngày càng béo thêm. Con không sợ sao ?

(Con) Béo cũng đâu có sao, miễn là mình mạnh khỏe.

(Mẹ) Con à, con phải nghe lời mẹ. Ăn ít thôi. Đây, bác Ba hàng xóm đấy.
Bác ấy béo quá nến bị cao huyết áp. Hôm qua bác ấy phải đi cấp cứu, làm cả nhà ai cũng lo.

(Con) Vậy hả, mẹ ? Mình đi thăm bác Ba đi. Nhưng con đói bụng quá, mẹ ơi.

3. Thực hành nói

(1) Con đói mà, mẹ.
Con uống thuốc rồi mà, mẹ.
Con đang học bài mà, mẹ.
Con ăn cơm rồi mà, mẹ.

(2) Con phải cố gắng lên chứ.
Ông phải tập đi bộ mỗi ngày chứ.
Chị phải nghỉ ngơi chứ.
Anh phải bỏ rượu chứ.

(3) Tăng cân cũng đâu có sao, miễn là mình mạnh khỏe.
Không có tiền cũng đâu có sao, miễn là mình không bị đau yếu.
Ăn nhiều cũng đâu có sao, miễn là mình không bị béo.
Thức khuya đọc sách cũng đâu có sao, miễn là sáng mai không bị đau đầu.

4. Từ vựng

Ông Sáu là một thương gia giàu có.
Trong nhà ông ấy không thiếu thứ gì: máy lạnh, ti vi, tủ lạnh, đầu máy vidéo, xe hơi.
Cái duy nhất mà ông ấy thiếu đó là sức khỏe.
Lúc nào ông ấy cũng than phiền rằng mình không sao ngủ được, không thể ăn ngon và luôn cảm thấy mệt mỏi.
Ông có một bác sĩ riêng. Bác sĩ khuyên ông không nên làm việc nhiều, phải nghỉ ngơi thoải mái.
Nhưng ông không làm như vậy được.
Ông phải gặp nhiều người, phải nói chuyện họ về việc làm ăn, phải suy nghĩ và lại mất ngủ, lại mệt mỏi và lại ăn không ngon.

5.Thực hành nghe

Trong phòng của Lan có một cái cân.
Tuần nào Lan cũng cân một lần.
Sáng nào Lan cũng tập thể dục ít nhất là một tiếng.
Cô sợ mình lên cân thì sẽ mất đẹp.
Bữa ăn hàng ngày của Lan không có nhiều đường, không có mỡ, chỉ có cá, một ít thịt và nhiều rau.
Sau mỗi bữa ăn, Lan thường ăn trái cây tươi.
Mỗi ngày một thứ khác nhau: bưởi, xoài, chôm chôm, nho, táo...

Lan không thích Tết vì khi được nghỉ ở nhà, thế nào cô cũng ăn nhiều món đặc biệt chỉ ngày Tết mới có.
Vì vậy những ngày sau Tết, Lan thường phải ăn kiêng, và phải tập thể dục nhiều hơn.
Nhiều người khen Lan có thân hình đẹp nhưng Lan hơi buồn vì khuôn mặt của cô không đẹp như cô muốn.

6,5 Ý kiến của tôi về ảnh hưởng của rượu đối với sức khỏe.
(Tốt)
☺ Uống ít là tốt cho sức khỏe, nhưng uống nhiều quá không tốt.
☺ Uống 1 ly hay 2 ly bia trong khi ăn, rượu giúp tiêu hóa thức ăn.
☺ Uống rượu giúp ngủ ngon.

(Không tốt)
😵 Uống quá nhiều, say rượu không tốt, vì không nhớ gì đã nói hay đã làm, gây gỗ, đánh nhau, gây tai nạn khi lái xe.
😵 Nếu hàng ngày uống nhiều, sẽ bị bệnh huyết áp cao, mỡ trong máu, tiểu đường ~ ung thư gan ~ chết.

7.Bài Đọc

Trong nhóm bạn đồng hương của chúng tôi, anh Hùng là người có tửu lượng khá nhất.
Anh ấy có thể uống một lúc tren 10 chai bia mà vẫn chưa say.

Trong các buổi tiệc, anh thường đi từ bàn này sang bàn khác cụng ly "dô 100%" với mọi người, không kể lã hay quen.
Vợ anh thường khuyên anh: "Anh à, đừng uống nhiều.Phải giữ gìn sức khỏe chứ".
Mỗi lần nghe vợ khuyên như thế anh chỉ cười bảo rằng: "Anh biết mà. Em đừng lo. Say với bạn bè một chút cũng đâu có sao, miễn là mình không gây gổ, quậy phá bà con, hàng xóm là được rồi."
Khuyên mãi không được, vợ anh chỉ còn cách là mua cho anh một máy điện thoại di động để theo dõi xem anh đang "xỉn" ở đâu, để nếu cần thì mang xe đến đón về.
Nghe nói tửu lượng của anh càng ngày càng cao.

Thế nhưng, vừa rồi trong bưởi tiệc sinh nhật của một người bạn, tôi ngạc nhiên khi thấy anh xin một ly trà đá!
Anh không còn đi từ bàn này sang bàn kia "chúc sức khỏe" mọi người như trước.
Anh cho biết gần đây anh hay cảm thấy mệt mỏi, đi khám sức khỏe thì bác sĩ cho biết anh có nhiều vấn đề : huyết áp cao, tiểu đường, có mỡ trong máu, và nhiều thứ bệnh khác nữa.

8. Ghi chú

mà : biểu thị ý giải thích
(理由を説明する)
Con đói mà, mẹ.

chứ : cho khuyên, biểu thị ý yêu cầu nhắc nhở 
(アドバイスする)
Con phải cố gáng lên chứ.
Anh phải bỏ hút thuốc lá chứ.

miễn là : chỉ với điều kiện là. quan trọng là. chỉ cần
(~でさえあれば、重要なのは、)
Anh đi bằng gì cũng được. Miễn là anh đến đây đúng giờ.

(Ý kiến )

Ăn uống như hợp lý là ăn uống điều độ, không quá nhiều, không quá ít, ăn đúng giờ, đủ bữa,ăn món ăn đủ dinh dưỡng.

にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)   


∞ベトナム語sach3 復習 | 13:48:46 | コメント(0)
Bài 1 Mô tả người
Bài 1 Mô tả người

(Giới thiệu)

Hãy nhìn hai bức ảnh của cùng một người và thử xem anh ta đã thay đổi như thế nào.

Đây là bức ảnh chụp khi anh ta 22 tuổi, lúc mới tốt nghiệp đại học.
Khi đó anh ta rất gầy , chỉ khoảng 45 kí lô.
Anh ta để tóc dài , để ria mép , trông hơi già hơn so với tuổi .

Còn đây là bức ảnh chụp 10 năm sau đó , khi anh ta trở thành một nhà doanh nghiệp có tiếng.
Anh ta béo ra , có lẽ không dưới 70 kí lô.
Bụng anh ta hơi phệ.
Mái tóc anh ta cắt ngắn , gọn ghẽ , theo mô-đen của các nhà doanh nghiệp hiện nay.
Anh ta không còn để ria mép nữa.
Trông anh ta có vẻ rất tự tin.

2. Hội thoại

Cuộc nói chuyện giữa hai cha con

(Cha) Hôm qua con đưa bạn gái về nhà giới thiệu với mẹ , phải không ?

(Con) Dạ , phải. Tiếc là ba không có ở nhà.

(Cha) Ờ, ba bận họp ở công ty. Sao , con quen cô gái ấy lâu chưa ?

(Con) Dạ , năm ngày.

(Cha) Ủa , mới có năm ngày thôi à ? Vậy , con có biết tính nết của cô gái ấy như thế nào không ?

(Con) Dạ , con biết chứ.

(Cha) Vậy , con nói thử cho ba nghe cô ấy là người thế nào .

(Con) Dạ , cô ấy tóc dài , mắt to .......

(Cha) Không , ba không hỏi về hình dáng bên ngoài . Ba muốn con nói về tính tình của cô ấy kia.

(Con) Dạ , cô ấy hiền , chân thật , giản dị , ghét giả dối , thích nấu ăn , thích làm bánh khi rảnh .....

(Cha) Ờ , như vậy là giống má con. Má con nấu ăn ngon không ai bằng.

(Con) Cô ấy cũng có sở thích giống con. Thích nghe nhạc , khoái du lịch , khoái bánh xèo .....

(Cha) Vậy bạn gái của con chắc chắn là người miền Nam rồi.

(Con) Sao ba biết hay quá vậy , ba ?

(Cha) Thì ba đoán mà. Ủa , mới quen có năm ngày , làm sao mà con rành tính nết của cô ấy quá vậy ?

(Con) Thì con đọc trong báo , ở mục "Câu lạc bộ làm quen". Cô ấy tự giới thiệu như vậy.

3.thực hành nói

(1) Tiếc là ba không có ở nhà.
Tiếc là mũi anh ấy không cao.
Tiếc là mặt anh ấy không đẹp.
Tiếc là chị ấy không làm người mẫu.

(2) Con nói thử cho ba nghe cô ấy là người thế nào.

Chị nói thử cho tôi nghe anh ta là người thế nào.
Các bạn nói thử cho tôi nghe ông ấy là người thế nào.
Anh nói thử cho tôi nghe cô gái mà anh mới quen là người thế nào.

(3) Cô ấy tóc dài, mắt to.
Cô ấy tóc vàng, mắt xanh.
Cô ấy tóc uốn quăn, mắt một mí.
Cô ấy tóc ngang vai, mắt hai mí.

(4) Má con nấu ăn ngon, không ai bằng.
Cô ấy thông minh, không ai bằng.
Cậu bé ấy chăm chỉ, không ai bằng.
Ông giám đốc ấy khó chịu, không ai bằng.

(5) Làm sao mà con rành tính nết của cô ấy quá vậy ?
Làm sao mà anh biết rõ về gia đình của cô ấy quá vậy ?
Làm sao mà chị biết rõ những tật xấu của cô ấy quá vậy ?
Làm sao mà ông tin vào những lời giới thiệu trên báo của cô ấy quá vậy ?

4.Từ vựng

Điền các từ dưới đây vào chỗ trống thích hợp:

Chị dâu tôi dáng người thon thả.
Chị không có nước da trắng như nhiều cô gái khác nhưng mái tóc dài, óng mượt của chị thì có lẽ không ai bằng.
Chị không có đôi mắt to, đen láy như em gái tôi.
Mắt chị chỉ là mắt một mí.
Mũi chị có thể nói là hơi thấp.

Thế nhưng anh tôi lúc nào cũng cho rằng vợ mình là người đẹp nhất.
Tất cả chúng tôi đều yêu mến chị vì chị nấu ăn ngon và tính tình lại vui vẻ nữa.

5.Thực hành nghe

Tôi có một anh bạn năm nay đã ba mươi sáu tuổi, thế mà anh ấy vẫn chưa lập gia đình.
Bố mẹ anh lo lắng lắm vì anh là con trai duy nhất trong gia đình.
Các chị em gái của anh đều đã lập gia đình từ lâu.
Lần nào tôi đến nhà anh chơi, mẹ anh cũng bảo tôi cố khuyên anh lập gia đình để các cụ sớm có cháu nội.

Nhưng dù tôi có thuyết phục thế nào anh cũng cười bảo rằng : "Mình chưa tìm được người vừa ý". Có lần tôi hỏi anh người thế nào là người vừa ý anh thì anh bảo rằng cô ấy phải cao, tóc dài, có học thức- ít nhất phải tốt nghiệp đại học, cô ấy phải xinh đẹp và có nghề nghiệp ổn định.

Các chị em gái của anh cũng đã nhiều lần giới thiệu bạn bè của họ cho anh nhưng lần nào anh cũng lắc đầu với đủ lý do: Cô thì cao quá, cô thì mập quá, cô thì đen quá, cô thì ít học quá - chỉ mới tốt nghiệp phổ thông.
Tôi nghĩ một người khó tính như anh chắc chẳng bao giờ lấy được vợ.

6.Miêu tả vài dòng về một người thân

Đây là người bạn Việt Nam mà tôi quen đầu tiên.
Khuôn mặt của em ấy hình trái xoan, tóc thẳng và đen, đôi mắt một mí, mũi không cao, miệng nhỏ.
Em ấy rất thông minh, tốt bụng, hiền chân thật và giản di.
Em thích làm bánh và ăn trái cây.
Em ấy học tiếng Nhật rất chám chỉ để sau này có thể làm viêc ở một công ty Nhật Bản.

7.Bài đọc

Cường hơi hồi hộp. Đây là lần đầu tiên anh đi gặp một cô gái qua mục "Câu lạc bộ làm quen". Nếu đúng như lời cô ấy tự giới thiệu thì người Cường sẽ gặp là một cô gái khoảng 1m 56, tóc dài, da trắng, thích nhạc nhẹ nhưng hơi khó tính.

Ồ, có lẽ đây là điều làm anh khó nghĩ: Nếu sau này anh lập gia đình với cô ấy thì sao nhỉ ? Cô ấy sẽ chẳng bao giờ hài lòng với những điều anh làm ? Cô ấy sẽ chê tất cả những gì anh mua tặng, hay là ....?

Không, có lẽ tốt nhất là đừng nghĩ đến nhưng chuyện không hay đó. Điều quan trọng là anh sẽ nói gì khi gặp cô ấy?
Anh sẽ nói:"Rất vui được gặp cô. Xin lỗi, cô làm việc ở đâu ? Gia đình cô có mấy người ? Cô thích ăn món gì nhất ?....
Nhưng mà nói như vậy có tự nhiên không ? Ôi, anh bối rối quá. Lúc này có ai giúp được anh không ?

8.Ghi chú

Mới quen có một tuần, làm sao mà con biết rõ tính nết của cô ấy ?

Hôm qua con đưa bạn gái về nhà giới thiệu với gia đình, tiếc là ba không có ở nhà.
Tôi rất muốn cộng tác với anh, nhưng tiếc là tôi sắp phải đi xa.

Ba muốn con nói về tính nết của cô ấy kia.
Má con nấu ăn ngon không ai bằng.


にほんブログ村 海外生活ブログ ベトナム情報へ
にほんブログ村 海外生活ブログ ホーチミン情報へ
にほんブログ村 ⇔ ランキングに参加中
  ↑  ↑  ↑
あなたからもらったクリックが、ランキングに影響します ♪♪ 
(「ベトナム情報」と、「ホーチミン情報」に、按分して参加しています。)          


∞ベトナム語sach3 復習 | 16:13:02 | コメント(0)
前のページ